Phần 2 nói về tiềm năng phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh trung học cơ sở thông qua các văn bản văn học Trung Quốc
Tiềm năng phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh trung học cơ sở qua các văn bản văn học Trung Quốc
Các văn bản văn học Trung Quốc được lựa chọn trong sách giáo khoa cung cấp những tình huống sư phạm và chất liệu đặc thù. Để khai thác hiệu quả, việc phân tích tiềm năng của chúng cần được gắn liền với các định hướng, giải pháp tổ chức hoạt động dạy học cụ thể, nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực theo yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a).
Trước hết, các văn bản này là ngữ liệu giá trị để phát triển năng lực đặc thù của môn học là Năng lực Ngữ văn. Về năng lực văn học, các văn bản này cung cấp cơ hội điển hình để học sinh thực hành kĩ năng nhận biết và phân tích đặc trưng thể loại theo đúng lộ trình của chương trình. Với văn bản Dế chọi, học sinh lớp 9 có thể thực hành yêu cầu cần đạt về việc “Nhận biết và phân tích được một số yếu tố trong truyện truyền kì như: không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính, lời người kể chuyện” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018b, tr. 55). Cụ thể, việc giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích vai trò của chi tiết kì ảo (hồn cậu con trai nhập vào con dế) như một “nút thắt” và “nút mở” cho mâu thuẫn truyện, một phương thức nghệ thuật để thể hiện nội dung tư tưởng về tình phụ tử và sự hối lỗi, chính là cách để các em thực hành năng lực phân tích. Tương tự, Cố hương là chất liệu phù hợp để học sinh lớp 8 rèn luyện kĩ năng phân tích nhân vật trong truyện, đáp ứng yêu cầu cần đạt về việc phân tích các yếu tố của truyện như “cốt truyện, bối cảnh, nhân vật, ngôn ngữ” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018b, tr. 50). Thay vì chỉ tập trung vào hành động bên ngoài, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh so sánh nhân vật Nhuận Thổ trong ký ức và trong hiện tại để thấy được sự tinh tế trong nghệ thuật miêu tả tâm lí, một đặc trưng của truyện ngắn. Với thể loại thơ, Xa ngắm thác núi Lư giúp học sinh thực hành yêu cầu cần đạt của lớp 8 về việc “Nhận biết được một số yếu tố thi luật của [...] thơ tứ tuyệt luật Đường” và “phân tích được nét độc đáo của bài thơ thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018b, tr. 50). giáo viên có thể tổ chức hoạt động “giải mã” bút pháp lãng mạn, khoa trương qua hình ảnh thơ độc đáo “Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên” (Ngỡ là sông Ngân rơi từ chín tầng mây), giúp học sinh hiểu sâu hơn về đặc trưng thi pháp thơ Đường.
Bên cạnh năng lực văn học, thành tố thứ hai là năng lực ngôn ngữ cũng được bồi dưỡng một cách hiệu quả. Thay vì chỉ đọc các bản dịch, giáo viên có thể giới thiệu thêm phần phiên âm và dịch nghĩa của bài thơ Xa ngắm thác núi Lư. Hoạt động so sánh, đối chiếu giữa các phiên bản sẽ giúp học sinh nhận ra vẻ đẹp cô đọng, hàm súc của ngôn ngữ thơ Đường, cũng như sự tài hoa và sáng tạo của người dịch. Quá trình đó giúp các em làm giàu vốn từ, phát triển khả năng cảm thụ sự tinh tế của ngôn từ, đáp ứng yêu cầu chung về đọc hiểu ở cấp Trung học cơ sở là “hiểu được nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018b, tr. 9).
Không chỉ dừng lại ở năng lực đặc thù, các văn bản này còn là bối cảnh phù hợp để phát triển các năng lực chung. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, vốn thể hiện ở khả năng “Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a, tr. 49), có thể được rèn luyện hiệu quả. Cốt truyện Dế chọi đặt ra một tình huống có vấn đề không chỉ của một cá nhân mà của cả một xã hội: Làm thế nào một người dân lương thiện có thể tồn tại trước sự bóc lột phi lý và tàn bạo của giai cấp thống trị? Đây là một vấn đề có chiều sâu, giúp học sinh thực hành việc “đánh giá vấn đề, tình huống dưới những góc nhìn khác nhau” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a, tr. 50), từ đó có những suy ngẫm về công lý và bất công xã hội. Tương tự, hình tượng “con đường” ở cuối truyện Cố hương là một hình ảnh mang tính mở, kích thích học sinh “hình thành và triển khai ý tưởng mới” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a, tr. 49) về các vấn đề xã hội, khuyến khích các em thoát khỏi lối tư duy tìm kiếm “một đáp án đúng” duy nhất để đến với sự kiến giải và sáng tạo cá nhân.
Ngoài ra. Các năng lực chung khác như năng lực giao tiếp và hợp tác được hình thành thông qua các hoạt động tương tác trên cơ sở văn bản. Như quan điểm dạy học đã nêu, giáo viên cần “tổ chức cho các em trao đổi, tranh luận” (Đỗ Ngọc Thống, 2018, tr. 23). Các vấn đề xã hội, đạo đức phức tạp trong Cố hương và Dế chọi là những chủ đề phù hợp để tổ chức các hoạt động thảo luận nhóm, tranh biện. Quá trình này đòi hỏi học sinh phải phân công nhiệm vụ, trao đổi ý kiến và phối hợp cùng nhau để đi đến sản phẩm cuối cùng, qua đó rèn luyện kĩ năng lắng nghe, trình bày quan điểm và hợp tác hiệu quả, đáp ứng các chỉ số hành vi của năng lực này như “Hiểu rõ nhiệm vụ của nhóm”, “góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung” và “Nhận xét được ưu điểm, thiếu sót của bản thân, của từng thành viên trong nhóm” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a, tr. 47-48).
Song hành với việc phát triển các năng lực nói trên, mục tiêu quan trọng không kém là bồi dưỡng các phẩm chất chủ yếu cho học sinh. Các văn bản văn học Trung Quốc được lựa chọn cung cấp những tình huống đa dạng để học sinh suy ngẫm, đối thoại và tự điều chỉnh, qua đó góp phần bồi dưỡng 5 phẩm chất cốt lõi mà Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã đề ra.
Trước hết, phẩm chất Nhân ái, vốn yêu cầu học sinh biết “tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a, tr. 39), có thể được bồi dưỡng một cách sâu sắc qua truyện ngắn Cố hương. Việc hướng dẫn học sinh phân tích sự thay đổi của nhân vật Nhuận Thổ do gánh nặng của cuộc sống và định kiến xã hội sẽ giúp các em thực hành sự thấu cảm, vượt qua sự thương hại đơn thuần để đi đến lòng trắc ẩn trước số phận con người. Bên cạnh đó, khi học về sự bóc lột trong Dế chọi, giáo viên có thể gợi mở cho học sinh liên hệ, so sánh với những hiện thực tương tự trong xã hội phong kiến Việt Nam. Hoạt động này không chỉ giúp các em hiểu về những vấn đề chung của nhân loại mà còn là cơ hội để rèn luyện sự tôn trọng và thấu hiểu đối với các nền văn hóa khác nhau.
Các văn bản này cũng là những tình huống điển hình để giáo dục phẩm chất Trách nhiệm. Trong khi Cố hương thể hiện trách nhiệm của trí thức với tương lai của quê hương, đất nước, thì Dế chọi lại cung cấp một bài học sâu sắc về sự vô trách nhiệm của giai cấp thống trị. Việc phân tích chuỗi nhân quả từ mệnh lệnh của vua quan đến bi kịch của gia đình Thành giúp học sinh nhận thức về trách nhiệm xã hội của những người cầm quyền. Đồng thời, câu chuyện về Thành cũng là một minh họa cho việc “Sẵn sàng chịu trách nhiệm về những lời nói và hành động của bản thân” và tầm quan trọng của việc “Quan tâm đến các công việc của gia đình” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a, tr. 41).
Tương tự, phẩm chất Yêu nước được khơi gợi một cách tinh tế và đa chiều. Vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên trong Xa ngắm thác núi Lư giúp bồi dưỡng tình yêu, ý thức trân trọng cảnh quan non sông, đáp ứng yêu cầu “Sống hoà hợp, thân thiện với thiên nhiên” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a, tr. 42). Trong khi đó, những suy tư của nhân vật “tôi” trong Cố hương lại gợi ra một tình yêu quê hương có chiều sâu, gắn liền với ý thức trách nhiệm và khát vọng đổi mới.
Bên cạnh đó, các phẩm chất như Chăm chỉ và Trung thực cũng có thể được bồi dưỡng qua quá trình tiếp cận các tác phẩm. Việc phân tích các vấn đề xã hội phức tạp trong Cố hương hay các tầng nghĩa trong Dế chọi đòi hỏi học sinh phải nỗ lực tư duy, tìm tòi, thể hiện phẩm chất “Luôn cố gắng vươn lên đạt kết quả tốt trong học tập” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a, tr. 39). Đồng thời, việc phân tích giá trị phê phán trong các tác phẩm này cũng là một cách để học sinh nhận diện sự bất công, giả dối trong xã hội, từ đó hình thành thái độ “Tôn trọng lẽ phải; bảo vệ điều hay, lẽ phải trước mọi người” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018a, tr. 40), một biểu hiện quan trọng của phẩm chất Trung thực.
Để hiện thực hóa những tiềm năng đã phân tích, việc dạy học các văn bản văn học Trung Quốc cần có sự chuyển đổi đồng bộ về phương pháp. Nguyên tắc cốt lõi là chuyển từ vai trò truyền thụ của giáo viên sang tổ chức các hoạt động để học sinh tự mình khám phá, kiến tạo tri thức và rèn luyện kĩ năng, bởi năng lực chỉ có thể được hình thành thông qua hoạt động của chính người học (Đỗ Ngọc Thống, 2018).
Chương trình Ngữ văn 2018 được xây dựng theo hướng mở, cho phép các nhà biên soạn sách giáo khoa và giáo viên có quyền chủ động trong việc lựa chọn ngữ liệu (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018b, tr. 4). Dựa trên cơ sở này và kết quả khảo sát thực tiễn, có thể thấy việc lựa chọn văn bản văn học Trung Quốc còn có thể được đa dạng hóa hơn nữa. Cần xem xét bổ sung các văn bản văn học hiện đại, đặc biệt là các truyện ngắn có dung lượng vừa phải, nội dung gần gũi với tâm lý lứa tuổi để tạo sự cân bằng giữa văn học cổ-trung đại và văn học hiện đại, giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về một nền văn học lớn.
Bên cạnh đó, một trong những trở lực lớn khi dạy học văn học nước ngoài là khoảng cách về bối cảnh văn hóa – xã hội. Để khắc phục điều này, giáo viên cần chủ động kết hợp ngữ liệu trong sách giáo khoa với các tài liệu mở. Việc tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học như video, hình ảnh, phim tài liệu về bối cảnh lịch sử, văn hóa (ví dụ: video về xã hội Trung Quốc đầu thế kỷ XX khi dạy Cố hương, tranh thủy mặc minh họa cho thơ Đường) sẽ giúp giảm khoảng cách văn hóa, làm cho bài học trở nên sinh động và giúp học sinh tiếp nhận tác phẩm một cách dễ dàng hơn.
Để phát huy tính tích cực của học sinh, cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, chuyển từ việc “giảng” sang “tổ chức hoạt động” (Đỗ Ngọc Thống, 2018, tr. 22). Các phương pháp như dạy học dự án, dạy học giải quyết vấn đề và thảo luận nhóm đặc biệt phù hợp. Ví dụ, giáo viên có thể tổ chức một dự án nhỏ cho học sinh nghiên cứu về “Ảnh hưởng của thơ Đường đến thơ trung đại Việt Nam” khi học Xa ngắm thác núi Lư. Với truyện Dế chọi, hoạt động thảo luận nhóm hoặc tranh biện về các tình huống đạo đức trong truyện sẽ giúp học sinh phát triển năng lực tư duy phản biện và giao tiếp.
Cuối cùng, để thực hiện thành công các giải pháp trên, yếu tố quyết định là người giáo viên (Nguyễn Trọng Hoàn, 2019). Cần có các chương trình, chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn sâu cho giáo viên về văn học Trung Quốc cũng như các phương pháp dạy học tích cực. Việc xây dựng một cộng đồng học tập chuyên môn, nơi giáo viên có thể chia sẻ các giáo án thành công, các nguồn học liệu mở, sẽ là giải pháp hiệu quả để nâng cao năng lực cho đội ngũ, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới giáo dục.
Kết luận
Với đặc thù là sản phẩm tinh thần giàu tính thẩm mĩ - nhân văn, văn học thiếu nhi nói chung, văn học thiếu nhi của Trung Quốc nói riêng, trở thành phương tiện và bối cảnh lý tưởng để trẻ em Việt Nam không chỉ chiếm lĩnh tri thức mà còn rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng tâm hồn và hình thành nhân cách, để hình thành năng lực của công dân toàn cầu.
Một khi tác phẩm/văn bản đã được tuyển chọn đưa vào dạy học trong nhà trường, sức ảnh hưởng của nó được nhân lên rất nhiều. Các văn bản văn học Trung Quốc được lựa chọn trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học cơ sở ở Việt Nam hiện nay, tuy số lượng còn khiêm tốn, nhưng đều chứa đựng tiềm năng to lớn trong việc phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh theo đúng mục tiêu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Việc khai thác các văn bản này không phải là quay trở lại lối dạy học định hướng nội dung, mà là sử dụng chúng như những công cụ sư phạm hiệu quả để tổ chức các hoạt động học tập, giúp học sinh tự mình chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kĩ năng.
Tuyển chọn, dịch thuật, phát hành, lựa chọn những tác phẩm/ văn bản văn học thiếu nhi Tung Quốc phù hợp với trẻ em Việt Nam là nan đề cần sự chung tay, phối hợp giải quyết, cải thiện của nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân. Phát triển văn hóa đọc cho trẻ em, đổi mới, nâng cao hiệu quả dạy học văn ở trường Tiểu học, Trung học cơ sở trên nguồn ngữ liệu văn học nước ngoài nói chung, văn học thiếu nhi Trung Quốc nói riêng, sẽ tích cực góp phần bồi dưỡng nên những công dân tương lai có đủ cả phẩm chất và năng lực để hội nhập và phát triển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018a). Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018b). Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Đỗ Ngọc Thống. (2018). Phương pháp dạy học Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, (3), 20-23.
Đỗ Ngọc Thống (Tổng Chủ biên), Bùi Minh Đức (Chủ biên), Đỗ Thu Hà, Phạm Thị Thu Hiền, & Lê Thị Minh Nguyệt. (2018). Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học phổ thông. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
Nguyễn Trọng Hoàn. (2019). Dạy học Ngữ văn theo định hướng năng lực. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
Nguyễn Thành Thi. (2014). Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực và yêu cầu “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông” [Báo cáo đề dẫn]. Hội thảo Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Nguồn: Bùi Thanh Truyền - Trương Thị Thùy Dung
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Copyright © 2018 Bản quyền thuộc về
touchread.vn