Văn học Trung Quốc ảnh hưởng sâu đậm, dài lâu đến văn hóa, văn học Việt Nam. Nhưng đó chủ yếu là đối với đối tượng người lớn. Đối với thiếu nhi, thơ văn của đất nước này dường như không có mấy ấn tượng so với văn học Pháp, Nga, Đan Mạch và cả Nhật Bản giai đoạn sau Đổi mới (1986). Điều này có nhiều lí do khách quan lẫn chủ quan. Hạn chế về dịch thuật, quan hệ lúc thuận lúc nghịch, lúc ấm lúc lạnh của hai quốc gia - dân tộc, tính tư tưởng - giáo dục đôi lúc lấn át tính nghệ thuật của sản phẩm tinh thần dành cho tuổi thơ,… là những lí do cơ bản. Văn chương không “vô mệnh”, kể cả sáng tác cho tuổi thơ. Vào Google, gõ cụm từ “Tác phẩm văn học thiếu nhi của Trung Quốc do Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành từ trước đến nay” thì được ngay câu trả lời: “Thông tin chi tiết về danh mục các tác phẩm thiếu nhi Trung Quốc được Kim Đồng phát hành còn hạn chế trong kết quả tìm kiếm”. Đây là vấn đề khá “tâm tư” của những người có ít nhiều duyên nợ với văn học cho tuổi thơ. Bài viết nhỏ này nhìn văn học thiếu nhi Trung Quốc ở Việt Nam trên hai bình diện chính: xuất bản và giảng dạy trong nhà trường (cấp Tiểu học và Trung học cơ sở).
Bài viết được trích từ tham luận “Văn học cho thiếu nhi của Trung Quốc ở Việt Nam” của PGS.TS, Bùi Thanh Truyền thuộc khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và học viên cao học Trương thị Thùy Dung thuộc Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Ở Phần 1 của bài đăng này sẽ trình bày về tình hình xuất bản văn học thiếu nhi Trung Quốc ở Việt Nam, văn học thiếu nhi Trung Quốc trong nhà trường Việt Nam, văn học Trung Quốc trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học cơ sở 2018 với việc phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Trước 1945, việc dịch và công bố văn học thiếu nhi Trung Quốc trên các báo chính thống của Việt Nam như Gia Định báo, Nam Phong tạp chí, Nam Kỳ địa phận,… khá hiếm hoi. Giai đoạn 45 năm đầu thế kỉ XX chủ yếu là dịch thuật tiểu Minh – Thanh. Phần lớn đó là những sáng tác chương hồi được công bố nhiều kì, dành cho người lớn là chính. Được thiếu nhi Việt Nam biết đến sớm nhất có lẽ là các ấn phẩm “liên hoàn họa” (kênh hình hỗ trợ kênh chữ) từ truyện Tây Du Ký (1927).
Từ năm 1945 – 1975, sách Trung Quốc dành cho thiếu nhi xuất bản ở Việt Nam chủ yếu là các tác phẩm cổ điển được chuyển thể dưới dạng truyện tranh liên hoàn và được in ở cả miền Bắc (sau 1954) và miền Nam trước 1975 chứ không hẳn là chuyển dịch sát đúng với toàn bộ nguyên bản chữ Hán: Tam quốc diễn nghĩa (bộ nhiều tập, ấn bản đầu khoảng 1957 – 1960), Tây du ký – các bản tóm lược/bản chuyển thể dễ đọc cho thiếu nhi, trong đó có bản 1960 của Phổ thông Hà Nội, Phong thần diễn nghĩa –giai đoạn 1950 – 1970,… Nhiều ấn bản được in thành bộ, từng tái bản nhiều lần. Như vậy, so với trước cách mạng tháng Tám, lúc này, dạng truyện tranh/liên hoàn họa được in và lưu hành rộng rãi. Nhờ đó, nhiều bạn đọc nhỏ tuổi biết đến và yêu thích văn học Trung Quốc. Về sau nhiều tập được in dưới dạng truyện rút gọn, truyện tranh để phục vụ độc giả trẻ, trở thành kí ức tuổi thơ của nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam.
.jpg)
Nhà xuất bản Kim Đồng (thành lập 1957) từng in nhiều sách thiếu nhi dịch, nhưng số đầu sách có nguồn từ Trung Quốc khá ít. Ở miền Nam, nhà sách Khai Trí cũng xuất bản, phát hành nhiều truyện dịch cho thiếu nhi, nhưng chủ yếu là của các nước phương Tây.
Từ 1975 – 2025, ở Việt Nam, văn học Trung Quốc cho thiếu nhi xuất hiện dưới hai dạng chính: (1) chuyển thể/lược dịch kiểu liên hoàn họa (Tam quốc chí, Tây Du kí, Thủy hử, Phong thần diễn nghĩa,…) và (2) dịch tác phẩm của các tác giả đương đại như Zheng Yuanjie (Trịnh Nguyên Tiết), Cao Wenxuan (Cao Văn Huyền) mang đến cách nhìn mới, nhân văn, gần gũi với trẻ em hôm nay. Giai đoạn này đã có nhiều tuyển tập như Truyện cổ Trung Quốc (biên soạn/dịch sang tiếng Việt) do các nhà xuất bản trong nước phụ trách (Kim Đồng, Trẻ, Văn học,…). Tính phiêu lưu, tưởng tượng trong các danh tác phẩm thuộc hàng “danh tác” và kho tàng truyện cổ phong phú rất phù hợp với tâm lí, thị hiếu thẩm mĩ của thiếu nhi. Tư tưởng anh hùng trượng nghĩa, ân tình thủy chung thông qua những nhân vật ấn tượng như Quan Công, Võ Tòng, Tôn Ngộ Không,… khơi lên ở trẻ khát vọng sống công bằng, trọng nghĩa tình; yếu tố kì ảo, võ hiệp kích thích óc tưởng tượng, phiêu lưu cho độc giả nhỏ tuổi. Hình ảnh minh họa sinh động giúp trẻ dễ tiếp cận nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Hoạt động dịch thuật văn học thiếu nhi Trung Quốc góp phần làm phong phú đời sống văn học thiếu nhi Việt Nam, tạo cầu nối văn hóa khu vực.
Lúc này các nhà xuất bản có sự chú ý hơn đến chất lượng dịch, biên tập: dịch gần gũi, dễ hiểu, minh họa đẹp, phù hợp tâm lí thiếu nhi Việt Nam. Xu hướng hợp tác xuất bản với Trung Quốc (dịch qua tiếng Anh hoặc trực tiếp từ tiếng Trung) ngày càng rõ rệt, nhưng mức độ vẫn còn khiêm tốn so với Nhật Bản và phương Tây. Đề tài, thể loại cũng đa dạng, cập nhật, chọn lọc hơn giúp trẻ em Việt Nam không chỉ biết đến văn chương cổ điển mà còn tiếp cận hơi thở thiếu nhi đương đại Trung Quốc. Nhưng khách quan mà nói, so với dịch văn học thiếu nhi phương Tây (truyện Andersen, Grimm, Edmondo De Amicis, Leptonxtoi, Astrid Lindgren,…), Doraemon, Conan từ Nhật Bản, Harry Potter của Anh, số dịch giả Việt Nam chuyên tâm dịch văn học thiếu nhi Trung Quốc còn hạn chế. Hiện nay, các nhà xuất bản như Kim Đồng, Trẻ, Văn học đang dần dịch những tác phẩm mới, hiện đại của Trung Quốc, đặc biệt là các sáng tác đạt giải thưởng quốc tế (như Cao Wenxuan – đoạt giải Andersen 2016). Nhìn chung, các tác phẩm thiếu nhi Trung Quốc chưa được giới thiệu hệ thống, thiếu hoạt động phê bình, nên vị trí của chúng trong đời sống tinh thần của trẻ em Việt Nam chưa mạnh bằng truyện tranh Nhật, văn học thiếu nhi Âu – Mỹ.
Nhiều truyện cổ Trung Quốc đã trở thành vốn chung trong trí nhớ của trẻ em Việt Nam. Đây cũng là nguồn ngữ liệu trong các bộ sách giáo khoa Tiếng Việt (Tiểu học) và Ngữ văn (Trung học cơ sở). Nhờ vậy, các em có thêm vốn văn hóa khu vực, văn hóa nhân loại, là “cửa sổ toàn cầu” giúp trẻ em Việt hòa nhập văn hóa, văn học quốc tế.

Cũng như tình hình xuất bản, con đường đến và ở lại với sách giáo khoa dành cho thiếu nhi Việt Nam của văn học Trung Quốc khá gập ghềnh. Trong bộ sách 1981, ngữ liệu văn học từ Trung Quốc hầu như vắng bóng. Nguyên nhân có thể một phần do sự “đóng băng” trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc kể từ sau năm 1979. Đến bộ sách 2006, nguồn ngữ liệu này gia tăng đáng kể. Sách giáo khoa Tiếng Việt có các văn bản: Ông Mạnh thắng thần gió (A - Nhông), Tôm Càng và Cá con (Trương Mĩ Đức, Tú Nguyệt). Sách giáo khoa Ngữ văn (Trung học cơ sở) có: Cây bút thần(cổ tích), Mẹ hiền dạy con (Liệt nữ truyện), Xa ngắm thác núi Lư (Vọng Lư sơn bộc bố), Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ tứ) của Lý Bạch, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê(Hồi hương ngẫu thư) của Hạ Tri Chương, Bài ca nhà tranh bị gió thu phá (Thu phong phá ốc ca) của Đỗ Phủ, Cố hươngcủa Lỗ Tấn, Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm,… Với chương trình Ngữ văn 2018, tình hình cũng có nhiều thay đổi do chủ trương chú trọng phát triển năng lực, phẩm chất của người học, một chương trình nhiều bộ sách, nguồn học liệu mở,… Nội dung này sẽ được chúng tôi ưu tiên làm rõ ở phần 3 của bài viết.
Như đã đề cập ở các phần trên, việc tiếp nhận văn học Trung Quốc dành cho thiếu nhi ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với những đặc điểm riêng. Giai đoạn sau khi Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 được ban hành đã đánh dấu một bước chuyển mới, với định hướng dạy học không còn tập trung vào nội dung mà chuyển sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Thực tế này đặt ra các vấn đề nghiên cứu cốt lõi: Việc lựa chọn các tác phẩm văn học Trung Quốc trong các bộ sách giáo khoa hiện hành có những đặc điểm gì? Và làm thế nào để khai thác hiệu quả các văn bản đó nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực theo đúng định hướng của chương trình mới?

Để trả lời những câu hỏi này, trước hết cần nhìn vào thực tiễn triển khai trong các bộ sách giáo khoa. Chương trình môn Ngữ văn 2018 đã quy định yêu cầu bắt buộc: “chọn ít nhất 1 tác phẩm cho mỗi nền văn học sau: Anh, Pháp, Mĩ, Hy Lạp, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018b, tr. 18). Từ quy định mang tính định hướng này, các nhóm biên soạn sách giáo khoa đã có những lựa chọn cụ thể. Kết quả khảo sát ba bộ sách giáo khoa Ngữ văn cấp Trung học cơ sở (Trung học cơ sở) hiện hành (Chân trời sáng tạo, Cánh diều, Kết nối tri thức với cuộc sống) cho thấy một bức tranh thực tiễn về việc lựa chọn và phân bổ văn bản văn học Trung Quốc. Cụ thể, văn bản Dế chọi (trích Liêu trai chí dị), thể loại truyện truyền kì, được cả ba bộ sách lựa chọn đưa vào chương trình lớp 9. Bên cạnh đó, bộ sách Cánh diều đưa thêm văn bản Cố hương của Lỗ Tấn (truyện ngắn, lớp 8) và bài thơ Xa ngắm thác núi Lư (Vọng Lư sơn bộc bố) của Lý Bạch (thơ Đường, lớp 8).
Kết quả khảo sát trên cho thấy một số đặc điểm về việc lựa chọn ngữ liệu: Về sự thống nhất, có một sự đồng thuận cao trong việc lựa chọn văn bản Dế chọi làm ngữ liệu tiêu biểu cho văn học trung đại Trung Quốc ở lớp 9. Về sự đa dạng thể loại, các văn bản được lựa chọn bao quát các thể loại chính là truyện truyền kì, truyện ngắn, và thơ Đường. Về sự phân bổ, các văn bản này được tập trung đưa vào giảng dạy ở các lớp cuối cấp Trung học cơ sở (lớp 8 và lớp 9). Từ thực trạng lựa chọn ngữ liệu này, mục tiếp theo sẽ đi sâu phân tích tiềm năng sư phạm của các văn bản trong việc đáp ứng các mục tiêu về phẩm chất và năng lực của chương trình.(Còn tiếp)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018a). Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018b). Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Đỗ Ngọc Thống. (2018). Phương pháp dạy học Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, (3), 20-23.
Đỗ Ngọc Thống (Tổng Chủ biên), Bùi Minh Đức (Chủ biên), Đỗ Thu Hà, Phạm Thị Thu Hiền, & Lê Thị Minh Nguyệt. (2018). Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn trung học phổ thông. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
Nguyễn Trọng Hoàn. (2019). Dạy học Ngữ văn theo định hướng năng lực. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
Nguyễn Thành Thi. (2014). Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực và yêu cầu “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông” [Báo cáo đề dẫn]. Hội thảo Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Nguồn: Bùi Thanh Truyền - Trương Thị Thùy Dung
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Copyright © 2018 Bản quyền thuộc về
touchread.vn