Nhà văn Tiêu Cần là một nữ nhà văn hiếm có của Quý Châu. Trên văn đàn đương đại, bằng phong cách sáng tác độc đáo cùng với tình cảm văn chương sâu nặng, bà truyền tải hơi ấm nhân văn và sức mạnh tinh thần qua từng câu chữ, tiếp thêm sức sống cho sự phát triển của văn học viết về làng quê, trở thành một luồng sáng rực rỡ giữa văn đàn.
Tuyển tập truyện ngắn Tiêu Cần do Nhà xuất bản Dân tộc Quảng Tây ấn hành vào tháng 10 năm 2024, tuyển chọn nhiều tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Tiêu Cần. Trong đó, tiểu thuyết Chu Sa đã giành được giải thưởng văn học cấp quốc gia – Giải thưởng Tuấn Mã trong sáng tác văn học các dân tộc thiểu số trên toàn quốc lần thứ 10. Vinh dự này đủ để khẳng định giá trị văn học của tác phẩm. Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm khác của Tiêu Cần cũng liên tiếp được vinh danh và thường xuất hiện trên các tạp chí văn học hàng đầu Trung Quốc như tờ Văn học Nhân dân, Văn học Dân tộc, Tháng Mười...
Tuyển tập gồm bảy tác phẩm tiêu biểu: Chu sa, Mọi vì sao đều có bí mật, Tên của bạn là gì?, Ấm áp, Hoa đẹp đỏ thắm, Trăng sương sớm và Đi Bahrain tìm một cái cây, trong đó tác phẩm cuối cùng là bài phỏng vấn riêng với tác giả. Bảy tác phẩm mang những phong cách khác nhau nhưng đều giàu hơi ấm và chiều sâu. Phần lớn thể hiện rõ đặc điểm đan xen giữa màu sắc kỳ ảo với đời sống hiện thực. Mỗi tác phẩm đều đem đến cho độc giả một rung động tâm hồn riêng biệt.
Chu sa kể về mối duyên chẳng thể cắt dứt, càng gỡ càng rối giữa “bà nội”, “ông cố ”, nhân vật “tôi” và Chu Sa; trong đó ẩn chứa phong tục dân gian cùng những tia sáng nhân tính của vùng đất phía bắc Quý Châu. Mọi vì sao đều có bí mật tập trung vào vấn đề hiện thực liên quan đến việc chiếm dụng, biển thủ nguồn quỹ y tế nông thôn. Tình tiết câu truyện biến chuyển đầy bất ngờ, qua những giằng xé nội tâm của các nhân vật, tác phẩm đi sâu “mổ xẻ” bản tính phức tạp của con người. Nếu tác giả không có vốn sống phong phú và kỹ năng viết điêu luyện, hẳn khó có thể tạo nên một tác phẩm hấp dẫn và gợi nhiều suy ngẫm đến vậy. Tên của bạn là gì? xoay quanh ba nhân vật Phùng Vui Vẻ, Cuộn Nguyệt Quang và Viên Bách Lý, khắc họa tinh tế những vướng mắc tình cảm giữa họ, qua đó gửi gắm niềm khát khao yêu thương và hơi ấm của những con người bình thường. Ấm áp lấy câu chuyện của “Tiểu Đẳng” làm điểm khởi đầu, đối diện trực tiếp với các vấn đề hiện thực của làng quê hiện nay như trẻ em bị bỏ lại quê nhà, người già sống cô đơn lủi thủi và người lao động đi làm ăn xa, từng câu từng chữ đều chan chứa sự ấm áp và lòng thương cảm. Hoa đẹp đỏ thắm ngược dòng trở về những năm tháng cách mạng, kể lại hành trình trưởng thành và chuyển biến của nhân vật chính Hoa Hồng rời dãy núi Đại Lu đến Trùng Khánh, dấn thân vào con đường cách mạng, qua đó làm nổi bật tấm lòng son sắt và tinh thần trách nhiệm của những người con cách mạng. Trăng sương sớm tập trung khắc hoạ tình cảm cha con nơi thôn quê, kể về câu chuyện Trang Long Phi vì mẹ mất mà đối đầu với cha mình là Trang Ba , qua đó nói hết những khoảng cách và sự hoà giải trong tình thân. Đi Bahrain tìm một cái cây lại phác họa cuộc đời nhiều trắc trở nhưng chan chứa tình cảm của nhân vật chính Hoàng Nguy Tử, gửi gắm lòng kính sợ trước sự sống và tình yêu thiết tha dành cho cuộc đời.
Dưới đây, tôi chỉ lấy Chu sa làm ví dụ để chia sẻ đôi chút cảm nhận sau khi đọc tác phẩm. Chu sa vốn là một loại đá có màu sắc rực rỡ, thành phần hóa học chủ yếu là thủy ngân sulfide. Tương truyền, nó còn là một vị thuốc Đông y có tác dụng trấn tĩnh, an thần, sát khuẩn... Nhưng dưới ngòi bút của Tiêu Cần, chu sa đã vượt lên trên thuộc tính vật chất vốn có. Nó là vũ khí xua đuổi tà ma, là biểu tượng tín ngưỡng không thể thay thế trong lòng người dân Cờ Lao, mang trong mình bề dày văn hóa vùng miền cùng nội hàm tinh thần dân tộc.
I. Hình tượng nhân vật sống động, đa chiều
Sở dĩ Chu Sa lay động lòng người là nhờ vào sự khắc hoạ nhân vật tinh tế của tác giả. Mỗi nhân vật đều bằng xương bằng thịt, sống động và đa chiều; họ vừa có điểm sáng, vừa có khuyết điểm và sự cắn dứt, nhưng luôn phát ra một tia sáng le lói, giúp độc giả có thể thông qua sự đồng cảm mà thấu hiểu sự phức tạp và hơi ấm của nhân tính.
“Bà nội” là một người phụ nữ khao khát sự tự do, mong muốn được tự quyết định hôn nhân của mình, nhưng cuối cùng vẫn không thể thoát khỏi xiềng xích của cuộc hôn nhân sắp đặt. Thởi trẻ, dưới sự ép buộc của cha, bà đau đớn rời xa người mình yêu, bị ép gả cho người mà mình không thích, chôn vùi mọi điều tốt đẹp và những ước mơ của cả cuộc đời vào tận đáy lòng. Đến lúc tuổi giả cận kề cái chết, tâm nguyện duy nhất của bà là có chu sa ở bên, hy vọng nhờ sức mạnh của chu sa mà có thể thuận lợi đi sang thế giới bên kia, bù đắp những tiếc nuối trong kiếp này. Nhưng đáng tiếc thay, trên vùng đất phía bắc Quý Châu từng dồi dào chu sa ấy, đến lúc này chu sa đã trở thành vật khan hiếm. Cuối cùng, bà không thể đạt được tâm nguyện, đành mang theo vô vàn tiếc nuối mà rời khỏi cõi đời. Cuộc đời của “bà nội” là hình ảnh thu nhỏ của biết bao phụ nữ trong thời đại ấy. Trong nỗi tiếc nuối và bất lực của bà ẩn chứa niềm khát vọng tự do, đồng thời cũng cho thấy sự trói buộc nghiệt ngã mà hiện thực tàn khốc áp đặt lên người phụ nữ.
“Ông cố” là một nhân vật có tính cách vô cùng phức tạp trong truyện. Cả đời ông kiếm sống bằng nghề trừ tà, nhưng lại không thể xua đuổi bóng ma trong chính lòng mình. Ông vốn là người lương thiện, nhưng cả đời sống trong sự sám hối và tự trách. Chỉ vì năm xưa nhận một trăm đồng tiền thưởng từ ông ngoại của “tôi”, trong lúc không biết rõ sự tình, ông đã tiết lộ tung tích của “bà nội” cho ông ngoại, vô tình trở thành người chia lìa uyên ương. Điều khiến ông càng day dứt hơn nữa là trước khi “bà nội” qua đời, bà khao khát có được chu sa, trong tay ông vừa hay lại có một ít. Thế nhưng, vì phải dùng số chu sa đó để làm lễ Nuo trừ tà cho nhiều người khác nên ông đã không thể trao nó cho “bà nội”, khiến bà phải mang theo tiếc nuối mà qua đời. Nỗi day dứt ấy giống như một chiếc gai cắm sâu vào tim, theo ông suốt cả cuộc đời. Dù vậy, lòng lương thiện của “ông cố” chưa bao giờ thay đổi. Ông dạy chữ miễn phí cho trẻ em trong làng , không nhận dầu gạo, cũng không lấy tiền bạc, và thường nhắc đi nhắc lại một câu: “Có gạo có dầu trong tay, sao bằng giữ được chu sa trong lòng.” Câu nói này vừa là phương châm sống, vừa là sự thể hiện chân thực tinh thần cống hiến của ông. Mãi đến trước lúc qua đời, ông vẫn còn sám hối trước nhân vật “tôi”, nói ra bí mật đã giấu kín trong lòng suốt bao năm. Dẫu cho bí mật ấy vốn đã đều biết rõ, ông vẫn giữ kín như bưng, chỉ mong giảm bớt tổn thương cho người khác. Tấm lòng lương thiện ấy thật đáng trân trọng.
Nhân vật “Tôi”, người kể chuyện trong tác phẩm, là một đứa trẻ thông minh, vừa là người đứng ngoài quan sát, vừa là người dần thức tỉnh. Toàn bộ câu chuyện được triển khai từ góc nhìn của “tôi”. Qua đôi mắt ấy, độc giả nhìn thấy sự sám hối và lòng lương thiện của “ông cố”, nhìn thấy những tiếc nuối và khát vọng của “bà nội”, đồng thời cảm nhận được nét đặc sắc về phong tục tập quán và văn hóa địa phương của vùng đất phía bắc Quý Châu. Nhân vật “Tôi” xuất hiện xuyên suốt tiểu thuyết, vừa là người chứng kiến câu chuyện, vừa là người truyền tải văn hóa vùng miền, nhờ đó toàn bộ câu chuyện càng mang lại cảm giác chân thực, gần gũi hơn.
II. Nghệ thuật ngôn ngữ độc đáo
Maxim Gorky từng nói: “Văn học là dùng ngôn ngữ để sáng tạo hình tượng, điển hình và tính cách; dùng ngôn ngữ để phản ánh sự kiện hiện thực, cảnh tượng tự nhiên và quá trình tư duy.” Trong Chu Sa, Tiêu Cần đã phát huy tối đa sức hấp dẫn của ngôn ngữ. Cách sử dụng ngôn từ đúng mức, thích hợp khiến người đọc như được nhìn thấy người thật, như được nghe thấy giọng nói của họ; qua đó cảm nhận được chiều sâu văn hóa của vùng đất phía bắc Quý Châu trong quá trình đọc và từ đó khơi gợi những suy ngẫm sâu xa.
Việc sử dụng phương ngữ trong Chu Sa không chỉ dừng lại ở vài từ ngữ tô điểm, mà còn đi sâu vào cấu trúc ngữ pháp và phương thức tư duy. Nhịp điệu, hình ảnh và đặc điểm logic của phương ngữ miền bắc Quý Châu được khéo léo hòa vào lời kể, tạo nên một chất ngôn ngữ riêng biệt. Trong tác phẩm vừa có những thành ngữ, tục ngữ địa phương đậm chất bản địa, vừa có những câu dân ca uyển chuyển, du dương. Các yếu tố ngôn ngữ ấy đan cài vào nhau, tạo nên cả lớp vỏ bên ngoài lẫn phần cốt lõi của văn hóa vùng miền, khiến tác phẩm tràn đầy hơi thở làng quê.
Văn phong của Tiêu Cần giống như dòng suối trong vắt chảy ra từ sâu trong đại ngàn vùng phía bắc Quý Châu, vừa thanh khiết ngọt ngào, vừa mang sự dày dặn của đất đỏ, vừa ẩn chứa hơi ấm của ánh sao; trong chất phác có tình cảm sâu đậm, trong bình dị tràn đầy sức mạnh. Chẳng hạn như: “Bà ấy sẽ đến, đúng không? Bà nội con là người trọng tình, lại có tấm lòng lương thiện. Ta đã để lại hết số cát đó cho bà ấy rồi, bà nội con nhất định sẽ tha thứ cho ông, sẽ đến đón ông mà.”; “Là ông đã hại con bé, ông không nên ham một trăm đồng tiền thưởng đó.”
Những lời nói đơn giản, thẳng thắn đã bộc lộ sự day dứt và mong đợi trong lòng “ông cố”, từng chữ đều chân thành, khiến người đọc xúc động.
Lại như những câu dân ca và phương ngữ địa phương: “ A í a ai, dưa dại của em chẳng chịu ra hoa; a í a ai, anh không ở đây sao mà trổ hoa!”; “Gió không rung tùng, tùng đâu có động.”; “Em chẳng ghẹo anh, anh nào có si?” Những làn điệu dân ca du dương cùng tiếng địa phương chuẩn xác này không chỉ khiến nhân vật mang đậm dấu ấn vùng miền, mà còn tạo thành một chiến lược ngôn ngữ độc đáo, giúp tác phẩm bám rễ sâu vào mảnh đất quê hương, đồng thời vượt khỏi giới hạn vùng miền để được đông đảo độc giả thấy hiểu.
Tiêu Cần rất giỏi sử dụng những hình ảnh làng quê để xây dựng cấu trúc thẩm mỹ cho tác phẩm. Trong đó, hình tượng “chu sa” xuất hiện lặp đi lặp lại, vừa là sự miêu tả cảnh vật cụ thể, vừa mang những tầng ý nghĩa văn hóa phong phú. Nó là tín ngưỡng của người Cờ Lao, là biểu tượng của nhân tính, là nhân chứng của lịch sử. Tính hai tầng trong ngôn ngữ ấy giúp lối tự sự về làng quê thoát khỏi giới hạn vùng miền, đạt tới giá trị văn học mang tính phổ quát hơn; nhờ đó, tác phẩm cũng trở nên sâu sắc hơn.
Nguồn: Ô Mông Mã Mỹ Yến
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Copyright © 2018 Bản quyền thuộc về
touchread.vn